Đá tự nhiên

Đá tự nhiên trong trang trí

Đá ốp lát ở Việt Nam đã được ra đời trên nghìn năm. Các nghệ nhân đã khai thác, đục, đẽo, chế tác ra nhiều sản phẩm đá granite (đá hoa cương), đá marble (đá cẩm thạch) góp phần xây dựng nên nhiều công trình kiến trúc cổ đại. Những năm gần đây, đá ốp lát đã dần phát triển thành ngành công nghiệp. Từ sản lượng khiêm tốn 0,2 triệu m2 vào năm 1990, lên 0,5 triệu m2 vào năm 1995 và 1,52 triệu m2 năm 2000, đến nay đã tăng lên 6,5 triệu m2 tăng gấp 32 lần so với năm 1990.

Nhiều trung tâm khai thác chế biến đá ốp lát đã có mặt ở nhiều địa phương, nổi bật nhất là tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Bình Định, Khánh Hoà, Phú Yên và một số tỉnh, miền Đông Nam Bộ,… Hiện nay đá ốp lát ở nước ta rất đa dạng và phong phú, về màu sắc có: đỏ, đen, hồng, xanh, xám, trắng, lục… Kích cỡ lớn nhỏ khác nhau 10 x 10 x 10 cm, 10 x 20 x 4 cm, 30 x 50 x 10 từ 30 x 30 cm, 40 x 40 cm, 50 x 50 cm, 60 x 60 cm và lớn hơn theo yêu cầu kiến trúc, chất lượng đá khác nhau từ đá granite, đá cẩm thạch đến đá bazan, đá gabro,… đáp ứng nhu cầu xây dựng cho mọi công trình, đã dần thay thế hàng nhập khẩu loại đá cao cấp cho các công trình kiến trúc hiện đại. Đá ốp lát Việt Nam được sử dụng rộng rãi cho các kiến trúc nội thất, ngoại thất, tường rào, lát vỉa hè đường phố.

Đá ốp lát Việt Nam không chỉ lưu thông trên thị trường nội địa mà còn xuất khẩu ra nước ngoài được thị trường thế giới ưa chuộng và đã có mặt trên thị trường của 85 nước và vùng lãnh thổ.

Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 99.317.547 USD so với năm 2001 tăng gấp 7,2 lần; với tốc độ tăng trưởng bình quân 38,5% năm.

Trong số 87 quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu đá ốp lát Việt Nam, chỉ có 15 nước có kim ngạch nhập khẩu trên 1 triệu Mỹ kim, 22 nước có kim ngạch nhập khẩu trên 100.000 USD, còn hơn 48 thị trường có kim ngạch dưới 100.000 đô la Mỹ. Tổ chức xuất khẩu của Việt Nam do nhiều đơn vị cùng làm với kim ngạch nhỏ bé, phân tán không có sức mạnh tổng hợp, sức cạnh tranh còn yếu, chưa đủ sức vào các thị trường lớn.

Đá xây dựng xuất khẩu:

 – Có 87 thị trường các quốc gia vùng lãnh thổ

 – Kim ngạch xuất khẩu vào năm 2007 đạt 99.317.547 USD

 – Có 15 quốc gia kim ngạch xuất khẩu đạt từ 1 triệu trở lên

 

Những ưu điểm của đá ốp lát tự nhiên

So với nhiều vật liệu truyền thống như gạch, gỗ, sành sứ… thì đá tự nhiên có những đặc tính vượt trội về độ bền, màu sắc, hoa văn. Sử dụng đá tự nhiên làm vật liệu trang trí vừa đảm bảo độ bền, vừa tạo nên sự sang trọng, tinh tế, gần gũi thiên nhiên trong các công trình. Đá tự nhiên cũng có nhiều ứng dụng hơn so với gạch, gỗ thông thường, có thể dùng để lát nền, ốp tường, ốp cầu thang, bàn bếp, công trình phụ, hành lang, thang máy, bể bơi, hay dùng để trang trí nội thất, ngoại thất… Đặc biệt, với đặc điểm khí hậu nóng ẩm như ở nước ta, sử dụng đá tự nhiên trong các công trình xây dựng còn tránh được nguy cơ mối, mọt, làm tăng tuổi thọ công trình.

Đá marlbe đỏ làm không gian trở nên sang trọng hơn.

Về phong thủy, nhiều loại đá tự nhiên ngoài việc dùng để ốp lát trang trí còn có tác dụng trừ tà khí và đem lại may mắn, sức khỏe cho gia chủ. Ông Nguyễn Thế Minh, một kỹ sư lâu năm trong nghề xây dựng hiểu biết am tường về đá nói: “Mỗi phiến đá đều có “niên đại” tự nhiên của nó qua hàng triệu năm nên tích tụ nhiều năng lượng trong nó. Bởi vậy, dùng đá tự nhiên không chỉ giúp công trình bền, đẹp mà còn còn có tác dụng trừ tà khí, đem vận may đến và rất tốt cho sức khỏe”.

Giá của các mặt hàng đá tự nhiên cũng khá đa dạng, phù hợp với túi tiền của nhiều đối tượng khách hàng. Đối với đá có nguồn gốc trong nước, giá chỉ từ vài trăm nghìn đến 1 triệu đồng/mét vuông. Đối với các loại đá nhập ngoại có chất lượng và mẫu mã vượt trội, mức giá cũng chỉ dao động từ 1 đến 2 triệu đồng một mét vuông. Ngày nay, thị trường bắt đầu xuất hiện những loại đá hiếm và lạ giá hơn 10 triệu đồng/m2.

Những loại đá tự nhiên nào đang được ưa chuộng?

Hiện trên thị trường có rất nhiều chủng loại đá tự nhiên, từ đá cẩm thạch, đá hoa cương, đã mã não (onyx) đến Quartz,… Những loại đá này được phân biệt với nhau bởi màu sắc, độ cứng, độ bóng, hoa văn và độ xuyên sáng. Chẳng hạn, đá hoa cương có ưu điểm về độ cứng, phù hợp cho việc ốp mặt ngoài công trình, lát hàng lang, lối đi nhưng lại thua các loại đá khác về màu sắc. Đá cẩm thạch có màu sắc đẹp mắt, hoa văn phong phú nhưng thông thường độ cứng lại không cao, thường được dùng để lát phòng khách, bàn ăn, bệ bếp, sảnh lớn, phòng tắm…

Thị trường hiện nay xuất hiện dòng đá marble tự nhiên thương hiệu AMDSTONE với màu sắc đa dạng, vân đá phong phú và đặc biệt là độ ngấm nước gần như bằng không, độ cứng tương đương đá hoa cương. Chất đá đẹp, màu sắc sang trọng (đỏ vân rồng, tím vân rồng, hồng xanh vân mây, Black Galaxy (đá marble đen), đá marble xám như Grey Galaxy, Grey Sonata), bền màu, có độ thẩm mỹ cao và có giá cạnh tranh được nhiều chủ công trình, các nhà thiết kế, các đại lý lựa chọn. Đá onyx với các đường vân đẹp, màu sắc bắt mắt và ánh sáng có thể xuyên thấu, thường dùng để trang trí tạo điểm nhấn trong các công trình. Trong khi đó, đá nhân tạo được làm từ hỗn hợp đá tự nhiên, với màu sắc, kích cỡ, hoa văn theo ý muốn.

Đá tự nhiên đã không còn là hàng xa xỉ

Theo quan sát của chúng tôi, tất cả các loại đá tự nhiên hiện đã có mặt trên thị trường trong nước. Có những showroom có tới gần 500 mẫu đá tự nhiên thuộc các dòng đá trên được nhập từ các nước như Italia, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Ấn độ… và phân phối cho các đại lý ở Việt Nam. Các loại đá nhập ngoại có mức giá khá cao. Trong khi đó, đá granite và đá marble trong nước đang là mặt hàng được ưa chuộng nhất trên thị trường hiện nay do chất lượng tốt, màu sắc đẹp, mẫu mã phong phú và giá cả hợp lý. Khách hàng chọn mua những dòng đá này không chỉ thuộc tầng lớp trung lưu, là chủ nhân của những căn biệt thự, penhouse hoặc căn hộ cao cấp mà nhiều nhà dân mua ốp tường, lát sàn hoặc ốp lát một số chi tiết như cầu thang, thang máy.

 

Đặc điểm của từng loại đá ốp lát tự nhiên

Sở dĩ đá ốp lát tự nhiên được ứng dụng trong nhiều công trình xây dựng vì loại vật liệu này sở hữu độ bền, đạt tính thẩm mỹ và đa dạng mẫu mã để khách hàng có thể lựa chọn. Nếu chưa biết nên chọn loại nào thích hợp để xây nhà thì trước tiên quý vị cần phải nắm được đặc điểm của từng loại như sau:

Đá phiến

Đá phiến là dòng đá dạng hạt mịn với thành phần chứa khá nhiều mica, chlorite và hạt thạch anh. Những dạng đá phổ biến nhất của đá phiến ở Việt Nam là đá tầy xanh, đá chẻ bao ở Đà Nẵng, đá đen ở Lai Châu, còn những loại đá nhập từ nước ngoài phổ biến là đá vân gỗ, hồng ban mai… Kích cỡ phổ biến nhất của đá phiến là 10×20 cm, 15x30cm, trong đó đá Đà Nẵng, đá Lai Châu màu xanh đen thường được sử dụng thay cho các loại gạch ốp tường.

Đá marble

Còn được gọi là đá cẩm thạch, đá marble hình thành dựa trên sức ép của lòng đất khiến cho các khối vật chất có màu sắc đặc thù, vân đá đặc trưng. Các sản phẩm đá marble đa số đều có bề mặt mài nhẵn bóng. đá ốp lát marble thường được làm thành tấm đá slab khổ lớn, dùng để tạo mặt bàn bếp, ốp mặt tiền và ốp cột cũng như nhiều ứng dụng khác.

Kích thước phổ biến của các loại đá cẩm thạch trong nước là 10×20, 7,5×22, 15×30 cm, đôi khi nó cũng được cắt thành khổ 30×30 cm, 50×50 cm để lát sàn.

Đá vôi

Độ đặc của đá vôi có phần thấp hơn so với đá cẩm thạch, màu sắc phổ biến là trắng, xám, vàng. Đá vôi dùng với mục đích trang trí thường là để thô, cắt thành khổ có kích thước 10x20cm để ốp cổng, ốp mặt tiền. Bạn không nên sử dụng đá vôi lát bếp bởi vì khi những chất dầu mỡ, nước trái cây, rượu bị dính vào thì sẽ làm dơ và khó tẩy rửa. Đá marble có độ bóng mịn là một lựa chọn tốt.

Đá travertine

Loại đá này là một hỗn hợp giữa đá vôi và đá cẩm thạch. Đa phần nó được mài bóng thành các tấm slab, nhược điểm là có nhiều lỗ, nếu sử dụng buộc phải trám bề mặt lại. Một số loại hóa chất, chất tẩy rửa cũng có thể làm hỏng bề mặt đá nên trong quá trình sử dụng gia chủ phải bảo quản và chăm sóc kỹ lưỡng.

Đá granite

Đá granite còn được gọi là đá hoa cương, có đặc điểm cứng, hạt đặc, có màu sắc lấm tấm như hạt tiêu hay hạt mè. Bề mặt của đá granite thô, ma sát khá cao nên hay dùng để lát sân hay lát lối đi. Còn sau khi được mài nhẵn bóng và làm thành khổ slab lớn, đá granite thích hợp để ốp mặt tiền nhà, đại sảnh…

Đá cuội, đá bazan

Đặc điểm của đá bazan là cứng, màu sắc đơn giản như đen, xám… nên hay được dùng để thiết kế cảnh quan lát nền, lát lối đi, ốp chân tường. Ta có thể dễ dàng bắt gặp loại đá này tại các quán cafe sân vườn.

Đá tổ ong

Thành phần của đá tổ ong có chứa nhiều đất sét, lỗ to và dễ gãy vỡ. Riêng loại đá tổ ong xám có lỗ nhỏ nên ít bị gãy hơn, người thi công có thể cắt thành khổ tùy ý. Đa phần đá tổ ong thường được sử dụng để ốp chân tường hoặc ốp bồn hoa. Ở các biệt thự sang trọng, đá tổ ong cũng được dùng trong trang trí ngoại thất.

Đá tự nhiên

Đá tự nhiên trong trang trí

Giới thiệu

Giới thiệu về chúng tôi

Xây dựng

Xây dựng

Thang máy

Thang máy